DÒNG TÊN VÀ SỰ PHẢN BỘI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

Thời Cuối15/12/2015
Đó cũng là tựa đề cuốn sách cùng tên của linh mục Malachi Martin[1]. Tác giả đã phân tích cách rất sinh động và cụ thể quá trình phản bội Giáo Hội của DT. Sự phản bội ấy được thể hiện qua việc nhất quyết đi ngược lại lý tưởng của thánh I-nhã và việc tấn công trực diện vào Giáo Hoàng và kho tàng đức tin Công Giáo. Mầm mống của sự phản bội này đã manh nha nảy nở từ trong quá khứ, âm thầm lớn mạnh theo thời gian, và chính thức bùng phát mạnh mẽ kể từ năm 1965 trở lại đây. Trước khi đi vào chi tiết, ta phải cần biết Malachi Martin là ai.

Ngài là một linh mục Dòng Tên chính hiệu, sinh năm 1921 tại Ireland. Có bằng tiến sĩ về chuyên ngành khảo cổ và cổ ngữ nên ngài đã làm giáo sư tại Trường Kinh Thánh Giáo Hoàng (Pontifical Biblical Institute) từ năm 1958-1964. Năm 1964, sau khi tham vấn bề trên, ngài được Đức Phao-lô VI cho phép xuất khỏi Dòng. Vì không muốn gia nhập một Dòng hay địa phận khác, ngài đã được Đức Phao-lô VI ban đặc ân chuyên trách việc viết sách và làm việc truyền thông. Ngài đã thực hiện nhiều cuộc trừ quỷ như được nói đến trong cuốn “Hostage to the Devil”. Ngài qua đời năm 1999.

Khái quát về Dòng Tên

Tên đầy đủ theo tiếng Anh là “The Society of Jesus – SJ” mà ta quen gọi là Dòng Tên – DT. Tổ phụ của DT là thánh I-nhã thành Loyola (Inigo de Loyola). Ngài sinh năm 1491 tại Casa Torre, một vùng xứ Basque, tỉnh Guipuzcoa, miền Bắc Tây Ban Nha. Cảm nghiệm đức tin và đời sống nội tâm của thánh I-nhã được ngài đúc kết trong cuốn Linh Thao – Spiritual Exercises.
Ngày 27/9/1540, bản hiến pháp của DT – The Formula of the Institute – đã được Đức Phao-lô III chính thức phê chuẩn, đánh dấu sự ra đời của DT. Trong bản hiến pháp, thánh I-nhã đã minh nhiên xác định ý nguyện của ngài là đặt toàn thể hội dòng cũng như cá nhân từng người trong tay Giáo Hoàng, sẵn sàng để Giáo Hoàng sai đi bất cứ lúc nào, đến bất cứ nơi đâu, để bảo vệ và truyền bá đức tin Công Giáo vì phần rỗi các linh hồn. Vì đã xác định như thế nên các phần tử của DT sẽ được đào tạo theo 3 mô thức căn bản, cũng gọi là mô thức I-nhã (Ignatian mold) sau:
Một: Người của Giáo Hoàng – Pope’s men. Các phần tử được đào tạo để trở thành người của Giáo Hoàng, tùy thuộc hoàn toàn vào Giáo Hoàng. Giáo Hoàng có quyền sử dụng và sai họ đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, ở bất kỳ đâu mà ngài xét thấy là tốt nhất.

Hai: Đa tài năng – Polyvalency. Chính mô thức một là tiền đề cho mô thức hai này. Vì xác định là người của Giáo Hoàng, một dạng lực lượng phản ứng nhanh của Giáo Hoàng theo ngôn ngữ ngày nay, nên họ không chỉ là những người được đào tạo bài bản về tâm linh và lòng đạo nhiệt thành, mà còn phải được đào tạo toàn diện về các chuyên ngành khác, kể cả những ngành tri thức mới, làm sao để có thể trở thành bậc thầy của thiên hạ hầu có thể cung cấp tài năng và những gì tốt nhất mà thế giới có thể cung cấp. Theo đó, các phần tử DT không chỉ là các linh mục; mà còn có thể là các nhà khoa học về hóa học, sinh học, động vật học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, sử học, thám hiểm, toán học, địa lý…; các thầy giáo, giáo sư, bác sĩ, kĩ sư, luật sư, triết gia, thần học gia, nhà biên kịch, họa sĩ, chuyên viên quan hệ công chúng, nhà văn, nhà nhơ, nhà báo, đạo diễn, chuyên viên truyền thông, và cả điệp viên tình báo nữa…nói tóm lại là họ sẽ được đào tạo để trở thành mọi cái hay bất cứ cái gì mà Giáo Hoàng muốn và cần đến.

Ba: Vì vinh danh Chúa hơn – Ad Majorem Dei Gloriam (AMDG). Không giống con người trân tục, chỉ biết theo đuổi công việc với động cơ và lợi ích thế tục chóng qua, các phần tử DT được đào tạo làm sao để đi đến chỗ có thể nhìn thấy Chúa trong mọi sự và hành động chỉ vì và cho vinh danh Chúa hơn mà thôi.

Đặc điểm nhân sự của DT

Thánh I-nhã đã thiết kế DT theo kiểu quân đội vì thế mà chỉ có DT mới được mệnh danh là “đội quân – company”, đội quân của thánh I-nhã – the company of Ignatius”. Đó là một tổ chức có phẩm trật trên dưới. Cấp dưới phải hoàn toàn tùy thuộc và tùng phục cấp trên vô điều kiện. Tất cả mọi phần tử được ràng buộc với nhau trong việc nhìn nhận và sẵn sàng vâng phục thẩm quyền cao hơn một cách tự do với trọn cả con tim và ý chí. Các thành viên phải vâng phục bề trên, bề trên phải vâng phục cha tổng quyền, cha tổng quyền phải vâng phục hội dòng, hội dòng phải vâng phục giáo hoàng, và giáo hoàng phải vâng phục Đức Kitô, Đấng mà ngài được đặt làm đại diện trên trần gian.

Đó là một cấu trúc hình kim tự tháp. Trên đỉnh tháp là vị trí của cha tổng quyền (General Father). Ngài có quyền trên toàn thể hội dòng. Khi ra các quyết định, ngài không bị bó buộc phải nghe theo bất kỳ lời khuyên hay cần phải có sự đồng ý của một phần tử nào trong Dòng. Ngài là bề trên tổng khác biệt với tất cả các bề trên khác vốn chỉ quản trị một khu vực hay bộ phận nào đó mà thôi. Chỉ duy cha tổng quyền lên nắm quyền qua việc bầu cử. Còn tất cả các bề trên khác trong Dòng đều là do cha tổng quyền bổ nhiệm hoặc ít ra là phải được sự chuẩn nhận của ngài. Một khi cha tổng quyền đã được bầu chọn lên, ngài sẽ nắm chức vụ cho đến chết trừ khi có lý do trầm trọng nào đó ngài mới có thể bị mất chức. Quyền của cha tổng quyền là tuyệt đối và phổ quát trên toàn Dòng. Đến mức, ngài có thể đuổi bất kỳ một ai đó khỏi Dòng mà không cần qua thủ tục xét xử pháp lý nào cả. Quyền hành và ảnh hưởng của cha tổng quyền lớn đến mức người ta đặt cho ngài biệt danh là “Giáo Hoàng Đen”. Thánh I-nhã đã được bầu chọn là cha tổng quyền đầu tiên của Dòng vào tháng 4, năm 1541.

Cấu trúc nhân sự của DT là một hệ thống gồm 4 đẳng cấp khác nhau (gọi là grade system), được phân biệt bởi luật chung, thể hiện mức độ họ có thể được tham gia vào các vị trí quyền lực khác nhau trong Dòng.

Cấp thứ nhất là các Linh Mục Khấn Trọn – Professed Priests. Cấp này gồm những phần tử đã được đào tạo sâu rộng và đã vượt qua những bài sát hạch gắt gao về học vấn và phẩm chất đức tin. Những người thuộc nhóm này, ngoài việc phải khấn ba lời khuyên Phúc Âm là khiết tịnh, vâng phục và khó nghèo, họ còn phải khấn lời khấn đặc biệt, cũng gọi là lời khấn Thứ Tư, là vâng phục giáo hoàng. Mặc dầu tất cả mọi phần tử của Dòng bị bó buộc phải vâng phục giáo hoàng, nhưng thực tế chỉ riêng nhóm các Linh Mục Khấn Trọn mới được/phải khấn lời khấn vâng phục giáo hoàng. Chỉ có những người thuộc nhóm các Linh Mục Khấn Trọn mới có cơ hội và có thể leo lên được các vị trí lãnh đạo cao nhất trong Dòng, là cha tổng quyền hay các vị trí lãnh đạo cao cấp khác, và cũng chỉ nhóm các Linh Mục Khấn Trọn này mới được tham gia vào việc bầu chọn cha tổng quyền. Đó là lý do tại sao chỉ có nhóm này mới được/phải khấn lời khấn đặc biệt thứ tư.

Cấp thứ hai được gọi là các Trợ Tá Thiêng Liêng – Spritual Coadjutors. Nhóm này gồm các linh mục chỉ khấn ba lời khuyên Phúc Âm như tu sĩ các dòng khác mà thôi chứ không được/phải khấn lời khấn đặc biệt thứ tư. Chức năng của nhóm này là trợ giúp công việc cho nhóm các Linh Mục Khấn Trọn. Theo ý định và cái nhìn của thánh I-nhã, những phần tử trong cấp thứ hai này sẽ gắn bó chủ yếu với việc phục vụ giáo dân thông qua các hoạt động mục vụ hoặc quán lý giám sát cơ sở vật vất của các nhà khác nhau trong Dòng.

Cấp thứ ba là các Thầy Dòng – Lay Brothers. Họ là những người sẽ ở bậc làm thày suốt đời và chỉ tuyên khấn ba lời khuyên Phúc Âm mà thôi. Công việc của họ là làm những việc chân tay trong Dòng như nấu nướng, giặt giũ, quét dọn nhà cửa, chợ búa, trồng trọt, bảo trì, hoặc chăm sóc bệnh nhân…..

Cấp thứ tư là các Tập Sinh – Trainees. Nhóm này cũng thường được gọi là các học sĩ –Scholastics – vì họ phải trải qua các trường lớp khác nhau để học các môn về nhân văn, triết học, thần học, và khoa học. Tùy vào khả năng đã thể hiện trong quá trình đào tạo, họ sẽ được phân hạng và gia nhập vào các cấp nhất, nhì, ba như vừa nói trên.

Vào thời điểm thánh I-nhã qua đời năm 1556, toàn Dòng chỉ có 40 Linh Mục Khấn Trọn trong tổng số khoảng 1000 thành viên.
Trong cơ cấu tổ chức của DT, thánh I-nhã đã dự liệu một cơ cấu quyền lực vượt trên cha tổng quyền, đó là Tổng Hội Toàn Dòng – General Congregation. Tổng Hội là cơ quan lập pháp tối cao của Dòng, chỉ phải chịu trách nhiệm trước giáo hoàng mà thôi. Tổng Hội có quyền truất phế cha tổng quyền khi có lý do chính đáng. Điều gì Tổng Hội đã quyết, toàn Dòng sẽ đi theo.

Tính cách của DT

Điểm khác biệt bề ngoài của DT so với các dòng khác là họ không có tu phục riêng, không bị buộc phải hát kinh thần vụ chung với nhau, không có hình thức khổ chế chung nào …Đến năm 1581, tức khoảng 25 sau khi thánh I-nhã qua đời, các phần tử của Dòng mới bị bó buộc phải duy trì một tiếng suy niệm cầu nguyện riêng mỗi ngày và chỉ phải giữ 2 hình thức của đời sống chung là các bữa ăn và giờ kinh cầu các thánh cuối ngày – Litanies.
Ngoài những đặc điểm đó ra, còn có những đặc điểm bên trong, làm nên tính cách hay căn tính của DT, được thể hiện qua bốn nét độc đáo sau đây:

Một là vâng lời như xác chết – Corpselike Obedience. Đây là cá tính đầu tiên mà thánh I-nhã muốn xây dựng cho Dòng của ngài. DT của ngài có thể thua kém các dòng khác về ăn chay, cầu nguyện, hay các hình thức hành xác khổ chế khác…nhưng nhất định phải trổi vượt hơn mọi dòng về đức vâng lời, vâng lời một cách trọn hảo đến mức hoàn toàn từ bỏ ý riêng, vâng lời bề trên như vâng lời Chúa Kitô.

Thánh I-nhã phân biệt ba cấp độ của đức vâng lời. Cấp thấp nhất của đức vâng lời là vâng lời theo bổn phận. Bạn vâng lời chỉ vì bạn là bề dưới phải nghe mà thôi. Vâng lời bề ngoài nhưng bên trong bất đồng với bề trên hoặc nguyền rủa bề trên. Vâng lời mà lòng không vui. Cấp độ thứ hai cao hơn một chút của đức vâng lời là vâng lời vì Chúa. Bạn có thể không hài lòng với mệnh lệnh của bề trên, nhưng vì Chúa, bạn vui lòng nghe theo. Vâng lời như vậy là bạn đã cảm nhận được chút niềm vui của vâng lời. Cấp độ thứ ba, cũng là mức cao nhất của đức vâng lời, được gọi là vâng lời tối mặt, như chính thánh I-nhã đã gọi. Bạn vâng lời đến mức hoàn toàn tự nguyện từ bỏ ý riêng, bạn nghĩ điều bề trên nghĩ, muốn điều bề trên muốn, thích điều bề trên thích, trọn vẹn con tim, ý chí và lý trí của bạn đều nên một với bề trên. Vâng lời đến mức bạn không còn thuộc về bạn nữa nhưng hoàn toàn thuộc về Chúa và bề trên. Hoàn toàn để Chúa và bề trên sử dụng bạn như ý các ngài muốn. Vì thế mà người ta gọi đó là sự vâng lời như xác chết – corpselike obedience – mặc người khác khiêng đi đâu thì đi, đặt ở đâu thì đặt.

Đức vâng lời của DT đã được kiểm chứng qua hai biến cố. Đó là chuyện liên quan đến cuộc xung đột lễ nghi trong quá trình truyền giáo tại Trung Hoa vào thế kỷ 17-18 và việc giải thể toàn bộ DT qua sắc lệch Dominicus ac Redemptor của Đức Clemente XIV, ngày 21/7/1773.

Thứ hai là toàn hiến cho Chúa Giêsu – Total Dedication to Jesus. Mỗi phần tử DT không chỉ là người đồng hành với Chúa nhưng còn là người hoàn toàn thuộc về Chúa, Đấng đã sống, đã chết và đã sống lại từ trong cõi chết, là Đấng cứu thế và là Chúa của mọi người, Đấng được đại diện trên trần gian bởi một con người cụ thể là Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo. Phẩm cách này của DT bắt nguồn trực tiếp từ linh đạo cá nhân và giáo huấn của thánh I-nhã. Thuộc trọn về Chúa Giêsu nên cũng hoàn toàn tùy thuộc đại diện của Ngài trên trần gian là Giáo Hoàng. Giáo Hoàng là bề trên tối cao của toàn DT.

Thứ ba là vì vinh danh Chúa hơn – Ad Mojorem Dei Gloriam. Để có thể là đội quân tinh nhuệ của Giáo Hoàng, đi hoán cải mọi người về với Chúa, mỗi phần tử sẽ được đào tạo và trang bị những kỹ năng và phương tiện phù hợp nhất theo khả năng của mình. Họ ra đi hoán cải thế giới với khẩu hiệu “vì vinh danh Chúa hơn” luôn bừng cháy trong con tim và khối óc của họ. Triết học và thần học của Thánh Toma Aquino là nguồn giáo huấn và giảng dạy chính thức của Dòng.

Và điểm đặc biệt cuối cùng là “nhìn thấy Chúa trong mọi sự và nhìn mọi sự bằng con mắt của Chúa” – see God in all things and see all things in God. Mỗi chiến sĩ trong đạo binh của thánh I-nhã phải có khả năng nhìn thấy Chúa trong mọi sự vì tất cả mọi sự trong trời đất đều lưu dấu ấn của bàn tay Thiên Chúa tạo dựng. Đó là bước căn bản. Đi xa hơn, họ phải tiến tới mức độ có thể nhìn mọi sự bằng con mắt của Chúa. Như vậy vẫn chưa thực sự là một chiến sĩ DT đích thực. Một chiến sĩ DT đích thực còn phải phải là một người hành động trong, nhờ, và với sự chiêm niệm, một sự chiêm niệm dẫn tới hành động. Vì bận tâm hàng đầu là tìm kiếm Chúa trong mọi sự nên tu sĩ DT không bị bó buộc bởi phải dành một lượng thời gian nhất định mỗi ngày cho việc ngồi trong phòng để cầu kinh nguyện ngẫm. Kết hợp liên lỉ với Chúa mọi nơi mọi lúc rồi, nên không cần phải lệ thuộc vào thời gian và địa điểm nữa.

Đó là những nét tính cách nổi bật hay cũng gọi là những tính cách I-nhã (Ignatian Characters) của DT. Đã là DT thì phải mang những nét tính cách như vừa nói trên. Nếu không như vậy thì DT không còn là chính mình nữa.

Sau khi DT được phục hồi trở lại vào năm 1814 bởi Đức Pio VII, sức sống của Dòng đã trỗi dậy một cách mạnh mẽ về phương diện nhân sự. Với chỉ vài trăm thành viên vào thời điểm được phục hồi năm 1814, đã tăng lên mười hai ngàn vào năm 1880. Còn về hướng đi của Dòng thì sao? Dòng vẫn tiếp tục tái khẳng định sẽ tiếp nối truyền thống, trung thành với những tính cách I-nhã của Dòng, và gắn bó với gia sản ngôn ngoan của Thánh Tiến Sĩ Thiên Thần, Toma Aquino, tái xác quyết Dòng vẫn sẽ là khí cụ hữu hiệu và ngoan ngoãn trong tay Giáo Hoàng. Trong bối cảnh Công Đồng Vatican I (1870) mới xác quyết và định tín ơn Bất Khả Ngộ của Giáo Hoàng, để chứng tỏ quyết tâm của Dòng, vẫn sẽ là chiến binh vô địch trong việc gắn bó với Chúa Giêsu và bảo vệ quyền và địa vị thủ lãnh tối cao của Giáo Hoàng, ngày 9/6/1872, Cha Tổng Quyền Pieter Beckx đã long trọng thánh hiến toàn thể Dòng cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Cũng chính giai đoạn này của thế kỷ 19, Giáo Hội phải đương đầu với những kẻ thù tinh ranh quỷ quyệt nhất, đó là những triết gia và thần học gia tự xưng mình là những “người hiện đại – Modernists”. Nguyên tắc nền tảng của họ được dựa trên một nhu cầu thường trực phải hiện đại hóa Giáo Hội và lời dạy của Giáo Hội. Phương cách để thực hiện là “sự thích nghi – adaption”. Tự nó, ý tưởng này không có gì là xa lạ đối với Giáo Hội, nhưng dưới miệng lưỡi và ngòi bút của những kẻ duy hiện đại này, sự thích nghi ở đây đồng nghĩa với việc chối bỏ giáo lý truyền thống, nghĩa là sẽ không có một dữ kiện đức tin bất biến, không có tín điều, không có niềm tin cố định…hãy để cho những dữ kiện của khoa học chỉ cho chúng ta biết phải tin cái gì!

Theo não trạng hiện đại, Giáo Hội không phải là một thể chế phẩm trật được thiết lập trường tồn và quy chiếu vào một mục tử tối cao là Giáo Hoàng, nhưng là một thực thể mang tính thiêng liêng nhiều hơn. Đó là một sự quy tụ của các cộng đoàn tín hữu khác nhau mà trong đó thần khí của Đức Kitô luôn làm nảy sinh sự tươi trẻ qua những hình thức thờ phượng và luân lý. Với danh tiếng là lực lượng phản ứng nhanh của Giáo Hoàng, lẽ dĩ nhiên là DT nhất quyết sẽ không thể dung túng cho những quan điểm sai lầm như thế của chủ nghĩa hiện đại, đồng thời quyết tâm đánh bại nó và không để cho tư tưởng sai lầm của nó thấm nhiễm vào các phần tử của mình (đọc lại bài 12 để rõ thêm về sai lầm của chủ nghĩa hiện đại). Ý chí quyết tâm là như vậy, nhưng trong thực tế thì DT không những đã không dập tắt những sai lầm của Chủ Nghĩa Hiện Đại mà còn ầm thầm đón nhận, nuôi dưỡng và phát triển nó lớn mạnh đến mức tinh vi và khó trị hơn. Mầm mống sự phản bội của DT đã chính thức nảy mầm và lớn mạnh kể từ đó.

Những con ngựa thành Tơ-roa

Đó là những nhân vật hay sự kiện đóng vai trò tiên phong khai sáng, gieo rắc tư tưởng sai lầm của Chủ Nghĩa Hiện Đại, và dẫn đến sự phản bội của DT.

Trước tiên phải nhắc đến George Tyrell. Ngài sinh năm 1861 tại Ái-nhĩ-lan trong một gia đình theo Anh Giáo. Hoán cải theo Công Giáo năm 1879 và xin gia nhập DT một năm sau đó. Sau 13 năm thụ huấn, ngài được truyền chức linh mục và dạy triết học tại đại học Stonyhurst. Lòng đạo nhiệt thành và lối sống khổ hạnh là những phẩm chất không ai nghi ngờ nơi Tyrell. Tuy nhiên não trạng duy hiện đại đã sớm phát tác nơi Tyrell đến mức cực đoan nguy hiểm. Sau đây là một vài luận điệu sai lầm cơ bản của Tyrell:

Về ơn vô ngộ – infallibility: Tyrell phủ nhận ơn vô ngộ và coi đó là điều không thể chấp nhận được. Ơn vô ngộ chỉ là một thứ vũ khí lạc hậu của thời Trung Cổ, được trang bị nhằm củng cố địa vị độc tài của Giáo Hoàng mà thôi.

Về phẩm trật và quyền giảng dạy của hàng giáo phẩm: Tyrell hoàn toàn chối bỏ cấu trúc và mô hình cổ điển của Giáo Hội, một Giáo Hội trong đó hàng giáo phẩm chịu trách nhiệm xác định các tín điều và biểu thức đức tin cho mọi người tuân giữ; một Giáo Hội được phân chia thành Giáo Hội giảng dạy – teaching Church (gồm Giáo Hoàng, Giám Mục và Linh Mục) và Giáo Hội tin theo – believing Church (gồm giáo dân, tu sĩ và cả thần học gia luôn). Tyrell dạy rằng, Đức Kitô đã không có ý thiết lập một Giáo Hội phẩm trật. Việc Giáo Hội được xây dựng trở thành một đế chế có tổ chức chặt chẽ, dưới quyền lãnh đạo của Giáo Hoàng, là sản phẩm của tham vọng và sự lừa dối của con người! Giáo Hoàng và Giám Mục đã tước đoạt quyền tham gia vào việc quản trị Giáo Hội của người dân. Do vậy, Tyrell quả quyết rằng, Giáo Hội phẩm trật chỉ đem đến một sự hợp nhất cơ học mà thôi chứ không phải sự hợp nhất thiêng liêng. Chân lý đức bắt nguồn từ dân chúng. Nói cách khác, Giáo Hội là một thể chế dân chủ, chân lý đức tin phải là kết quả do sự đồng thuận của dân. Đại diện Đức Ki tô là dân – peoplechứ không phải Giáo Hoàng –pope. Chẳng phải Giáo Hoàng hay Giám Mục đã thông truyền Lời Chúa cho dân. Lời Chúa đã hiện diện ở trong dân rồi. Kinh nghiệm tâm linh tập thể của dân là tiêu chí tuyệt đối của chân lý!

Liên quan đến các tín điều, Tyrell cho rằng Đức Kitô đã không giảng dạy các tín điều, các ý tưởng hay các lý thuyết. Vì thế, đức tin của Giáo Hội Công Giáo phải dung hòa với các kết quả khám phá của khoa phê bình lịch sử. Giáo Hội phải nương theo dòng chảy lịch sử phát triển của con người.

Với Tyrell, các Cộng Đồng Cơ Bản – Base Community – là những đơn vị đích thực của những người tin, là nguồn đáng tin cậy nhất của đức tin và mạc khải. Và rằng, chính nơi những Cộng Đồng Cơ Bản này mà mạc khải của Thiên Chúa được thể hiện. Họ có quyền do chính họ chứ không cần phải lệ thuộc và nghe theo Rôma. Chức linh mục không phải là một tặng ân cho cá nhân linh mục cho bằng là một ân ban cho cộng đồng. Chức năng chính của linh mục không phải để dâng lễ hy sinh và ban ơn tha tội cho con người, nhưng là để phục vụ xã hội và chăm lo cho lợi ích chung của cộng đồng!

Cực đoan hơn, Tyrell loại bỏ những ý niệm linh đạo I-nhã căn bản, cũng là những động lực dấn thân của DT như: vương quốc của Đức Kitô, người lãnh đạo, cuộc chiến với kẻ thù của ơn cứu độ, và đức vâng lời đối với Giáo Hoàng. Tiến xa hơn, Tyrell không tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa-làm-người, không tin sự sống lại của thân xác hay sự tồn tại của thiên đàng hay hỏa ngục, không tin thánh lễ là hy tế thập giá… Tyrell quả quyết, chúng ta không thể đóng khung tư tưởng của chúng ta vào tư tưởng của một người Thợ Mộc Do-thái của thế kỷ đầu tiên.!

Vì những sai lầm cơ bản trên, năm 1906, Tyrell được Cha Tổng Quyền mời gọi hãy rút lại những quan điểm lệch lạc của mình, ngài đã cương quyết từ chối và đã bị trục xuất khỏi Dòng. Ngài bất ngờ qua đời năm 1909 ở tuổi 48.

Vâng, Tyrell đã bị trục xuất khỏi Dòng và đã chết nhưng tư tưởng hiện đại của ngài vẫn sống và ngự trị khắp nơi, từ hàng giáo phẩm các quốc gia, đến các Dòng nam, nữ và nhất là nơi các hậu duệ DT của ngài.

Sau Tyrell, nhân vật tiếp theo phải nhắc đến là Pierre Teilhard De Chardin (1881-1955). Ngài vào Dòng năm 18 tuổi và được truyền chức linh mục năm 30 tuổi. Lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt của Chardin là cổ sinh vật học.

Tư tưởng của Chardin khá là trừu tượng khó hiểu bởi ngài có thói quen sáng tác ra nhiều thuật ngữ riêng. Cách chung, Chardin đã xây dựng cho mình một cái gọi là Thuyết Tiến Hóa Cấp Tiến – Progressive Theory of Evolution. Khởi đi từ Thuyết Tiến Hóa của Darwin, nhưng dựa trên dữ kiện chứ không trên lý thuyết, Chardin cho rằng, vũ trụ và vạn vật phát triển tự tại, từ những khởi đầu không sự sống trải qua nhiều giai đoạn phát triển nối tiếp nhau dài hàng tỉ năm. Đến một thời điểm nào đó, những con người thông minh – homo sapiens – xuất hiện và lịch sử bắt đầu.

Chardin quan niệm, con người bắt nguồn từ vật chất do sự giao thoa nội tại của vật chất và tinh thần. Không có một cái gì thuần túy vật chất hay thuần túy tinh thần. Ý thức xuất hiện khi sự vật hiện hữu và là tổng hợp của cả hai, vật chất và tinh thần. Vì thế với Chardin, tôn giáo cũng phải khởi đầu lại vào khoảnh khắc mà ý thức căn bản xuất hiện!

Theo Thuyết Tiến Hóa Cấp Tiến của Chardin, khi con người xuất hiện trên sân khấu vũ trụ theo những nhóm khác nhau, cũng là lúc khởi đầu một giai đoạn phát triển lâu dài tiến đến sự hợp nhất hoàn toàn mọi cá nhân trong một “Điểm Omega – Omega Point” của lịch sử. Khi hoàn toàn đạt tới sự hợp nhất này thì Đức Kitô, chính ngài là Điểm Omega, sẽ xuất hiện. Khi đó, con người sẽ trở nên con người hơn, trở thành cái mà Chardin gọi là “Siêu Nhân – Ultra Human”, vũ trụ cũng sẽ được biến đổi và đạt tới vinh quang của nó.

Với quan niệm như thế, Chardin khẳng định rằng, sự xuất hiện của một nhân loại mới là tất yếu như thể hết đêm thì lại đến ngày. Đó là sự tiếp nối của của cái mà Chardin gọi là “Vũ Trụ Tiến Hóa – Cosmogenesis và Con Người Tiến Hóa – Anthropogenesis”. Vì thế mà tất cả những gì là cũ kỹ, các lối suy nghĩ, tập tục truyền thống, hay tín điều, đều không có ý nghĩa đối với Chardin.

Tất cả mọi người cũng đều đang tiến đến một sự hợp nhất tất yếu, dù phải trải qua mọi hình thức đấu tranh đẫm máu, cho đến khi họ đạt tới Điểm Omega của sự hợp nhất hoàn hảo. Do vậy, chẳng có lý do gì phải buồn phiền đau khổ trước những tai ương và sự dữ. Tất cả mọi biến cố đều là tất yếu trong quá trình tiến đến Điểm Omega.

Với Chardin, thay đổi là tất yếu! Thiên Chúa phải được nhìn nhận, phải trở thành Thiên Chúa của Tiến Hóa. Thiên Chúa không có tự do để tạo dựng hay không tạo dựng vũ trụ. Là Thiên Chúa, Ngài phải tạo dựng! Chardin không tin một Thiên Chúa đã chết như Nietzsche hay một Thiên Chúa không đổi thay như đức tin Công Giáo dạy, nhưng tin một Thiên Chúa thay đổi. Chúa Giêsu đã khẳng định, “ta đến không phải là để phá hủy nhưng là để kiện toàn lề luật.” Còn Chardin dám mạo phạm sửa lại rằng, “ta đến không phải là để phá hủy nhưng là kiện toàn Tiến Hóa”! Vì theo Chardin, Đức Ki tô vẫn chưa thực sự nhập thể, Ngài chỉ nhập thể khi con người đạt tới Điểm Omega mà thôi!

Hiển nhiên là, một Thuyết Tiến Hóa như thế sẽ dẫn đến một sự chối bỏ hoặc thay đổi hoàn toàn đức tin Công Giáo. Chủ đề tạo dựng, tội nguyên tổ, thần tính của Đức Giêsu, ơn cứu độ, Giáo Hội, ơn vô ngộ, ơn tha tội, ơn siêu nhiên, hy tế thánh lễ, thiên đàng, hỏa nguc, kể cả sự hiện diện và tự do của Thiên Chúa…tất cả đều phải tái xác định hoặc bãi bỏ hoàn toàn! Rồi tất cả những gì mà chúng ta vẫn gọi là tội lỗi và sự dữ cũng không còn là vấn đề nữa. Tất cả mọi biến cố xảy ra trong thế giới đều là tất yếu trong qua trình tiến đến Điểm Omega. Một nhân loại mới đang hình thành nên cũng cần phải có một Thiên Chúa mới, một Thiên Chúa của Tiến Hóa.

Với những tư tưởng của mình, có thể nói Chardin đã biến mình trở thành một người ngoại giáo theo chủ nghĩa duy nhiên lãng mạn – pagan and romantic naturalist. Vậy mà với nhiều tu sĩ DT, Chardin được thần tượng và coi như một I-nhã mới, xuất hiện vào đúng thời gian chuyển tiếp của nhân loại như I-nhã đã xuất hiện vào thời của ngài. Tương tự như I-nhã, Chardin đã thiết lập một cách thức mới để nói với thế giới, một tư duy mới đối với DT và các nhà lãnh đạo tinh thần trong thời của ngài. Suốt 30 năm, kể từ cuối những năm 20 của thế kỷ 20 cho đến khi Chardin qua đời, ngôn ngữ và tư duy của Chardin đã thấm sâu vào hết các học viện DT và chủng viện trên thế giới.

Mãi tận 5 năm sau ngày chết của Chardin, năm 1960, Đức Gioan XXIII mới ra văn bản cảnh báo DT và giới Công Giáo về sự độc hại của tư tưởng Chardin đối với đức tin. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tên tuổi và học thuyết của Chardin đã như một thứ men độc hại lan tỏa sâu rộng khắp nơi. Một lệnh ban ra từ Roma như vậy đã là quá muộn, chẳng giải quyết được gì!

Cuộc Cách Mạng Vatican II

Vatican II có mục đích là đạp đổ vị trí và vai trò độc nhất của Giáo Hội trong chương trình cứu độ bằng những tư tưởng hiện đại: đảo lộn cấu trúc quân chủ của hội; dân chủ hóa Giáo Hội bằng định nghĩa Giáo Hội là Dân Thiên Chúa; không nhìn nhận Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội duy nhất và đích thực do Chúa Ki tô thiết lập; trao thêm quyền cho các Giám Mục để họ ít lệ thuộc Giáo Hoàng bao nhiêu có thể; công nhận quyền tự do tôn giáo và khẳng định dân ngoại cũng được cứu độ…(coi lại loạt bài về cuộc cách mạng vatican II)

Pedro Arrupe (1906-1991)

Arrupe sinh tại Bilbao, vùng xứ Basque, Tây Ban Nha. Từng theo học y khoa trước khi gia nhập DT và được truyền chức linh mục năm 1936. Năm 1938, được sai đi làm việc tại Nhật Bản, rồi được bổ nhiệm làm Cha Bề Trên đầu tiên của Tỉnh Dòng Nhật Bản năm 1958. Ngày 22/5/1965, Tổng Hội lần thứ 31 của DT (General Congregation 31) đã bầu chọn Arrupe làm Cha Tổng Quyền thứ 28 của Dòng. Như vậy là sau hơn 400 năm lịch sử, DT mới lại có một người xứ Basque thứ hai được chọn lên làm Cha Tổng Quyền. Người thứ nhất là thánh I-nhã, người thứ hai là Arrupe. Thánh I-nhã là người sáng lập, Arrupe là người tái sáng lập. Nói cách bình dân, thánh I-nhã là người kiến thiết dựng xây, Arrupe là người sửa chữa tân trang.

Arrupe được chọn không phải để tiếp tục công trình của thánh I-nhã nhưng là để thay đổi triệt để công trình ấy. Mặc dầu tên của công trình thì vẫn giữ nguyên nhưng kiểu dáng nội, ngoại thất của của công trình đã hoàn toàn bị thay đổi. Nếu thánh I-nhã đã sáng lập Dòng với tôn chỉ là để làm đầy tớ và chiến binh tuyệt đối trung thành của Giáo Hoàng, để bảo vệ Giáo Hoàng, để truyền bá đức tin, để xây dựng vương quốc của Đức Ki tô, để chiến đấu với Lucifer là kể thù của Thiên Chúa và con người…thì Arrupe xuất hiện với sứ mạng không phải là tiếp tục tôn những mục đích vừa kể nhưng là để hướng dẫn DT chiến đấu cho công bằng xã hội và tự do của con người, làm cho DT gắn bó với thế giới hơn.

Với tôn chỉ như thế, Arrupe đã thực hiện việc dân chủ hóa DT trước nhất để rồi tiến tới việc dân chủ hóa Giáo Hội. Cụ thể Arrupe lập tức triển khai việc tái cơ cấu sắp xếp toàn bộ các Nhà và chi nhánh, thay đổi nội dung và chương trình huấn luyện, di chuyển các trung tâm và học viện đào tạo từ môi trường thôn quê trở về thành phố. Các lời khuyên Phúc Âm được hiểu theo một ý nghĩa mới: Khiết Tịnh được hiểu là điều không thể nếu không có khả năng yêu thương bằng một tình yêu đã được phát triển và kinh nghiệm bởi tình yêu con người, duy trì mối quan hệ mật thiết với nữ giới là cần thiết miễn là không dính đến chuyện hôn nhân; Khó nghèo được hiểu là biết dùng của cải cách có trách nhiệm, được mở tài khoản nhà băng, có thẻ tín dụng, và tự quản lý việc chi tiêu; Vâng Phục được hiểu là tham vấn và đối thoại.

Nhận thức được những nguy hiểm tiếp theo của quá trình dân chủ hóa này, Đức Phao-lô VI đã đích thân gửi đến Arrupe và toàn Dòng hai câu hỏi chất vấn: Các anh có muốn là những tu sĩ theo đúng như ý định của thánh I-nhã không? Mối tương quan của các anh đối với Giáo Hoàng và Giáo Hội là gì?

Làm ngơ trước những cảnh báo của Giáo Hoàng, Arrupe nhất quyết dẫn dắt DT đi theo con đường gọi là đổi mới nhưng thực chất là con đường phản bội lại ý định và lý tưởng ban đầu của thánh I-nhã. Họ coi “bộ áo” của thánh I-nhã đã quá nhàu nát cũ kĩ nên cần phải khoác cho DT tấm áo mới tân thời hơn. Ngay sau Tổng Hội 31 năm 1965, luồng gió cách mạng bùng lên trong toàn Dòng. Các phần tử DT không bị bó buộc bởi bất cứ một hình thức đạo đức thiêng liêng nào. Tự do đi lại cũng được xác định là một quyền. Họ tái xác định sứ mạng trong của họ thế giới là phục vụ con người và xây dựng vương quốc trần thế. Để tâm đến sự hiện diện của Chúa Giêsu trong con người ngày nay hơn là gắn bó với một Chúa Giêsu trong tưởng tượng của hai ngàn năm trước đây! Phải bắt tay xây dựng và làm cho Nước Chúa ngự trị, chứ không phải ở đấy mà trông đợi một vương quốc nào đó!

Họ tấn công mạnh mẽ vào giáo huấn đức tin và luân lý truyền thống của Giáo Hội, coi đó là những gì khô khan cứng nhắc, lỗi thời cổ hủ, và không thể dung hòa được với tư tưởng con người thời đại. Cụ thể, Đức Phao-lô VI và Humanae Vitae đã bị tấn công một cách đồng loạt và hệ thống bởi đội quân của thánh I-nhã ở Hoa Kỳ, Đức, Hà Lan…Karl Rahner, thần học gia nổi tiếng của DT, gay gắt kết án Humanae Vitae là hoàn toàn sai lầm.

Giáo lý về đức đồng trinh, độc thân giáo sĩ, và chức linh mục bị mỉa mai chế giễu thậm tệ bởi đạo quân của thánh I-nhã. Josef Vrijburg, một linh mục người Đức, thề sẽ cưới vợ để làm chứng cho sự phản đối giáo lý về đồng trinh và độc thân giáo sĩ. Một linh mục người Đức khác là Huub Oosterhuis, thì đăng đàn chối bỏ thần tính của Đức Giêsu, việc lên trời của Đức Mẹ. Tại Hà Lan, họ đã ủng hộ và chấp nhận việc ly dị, linh mục có vợ, thủ dâm, hôn nhân đồng giới, phá thai và ngừa thai…Tại Ấn Độ, họ bóp méo và phá nát thánh lễ cực thánh bằng việc Hindu hóa thánh lễ, du nhập đủ các hình thức tế tự ngẫu tượng của người Hindu vào thánh lễ.

Chứng kiến con đường cách mạng và phản bội mà Hội Dòng đang lao đi, khoảng 100 tu sĩ thuộc Tỉnh Dòng Tây Ban Nha, đã thỉnh cầu Vatican cho họ được tiếp tục ở lại với lý tưởng I-nhã ban đầu. Năm 1969, đa số các GM Tây Ban Nha đã bày tỏ sự ủng hộ của họ trước nguyện vọng này. Tuy nhiên, tháng 5 năm 1970, Arrupe đã đích thân trở về TBN với đầy đủ các tài liệu và lý lẽ để dập tắt nguyện vọng chính đáng trên.

Làn sóng cách mạng trong Hội Dòng mà Tổng Hội 31 đem lại vẫn còn nóng hổi, chưa kịp nguội, thì Arrupe lại tiếp tục muốn châm thêm lửa bằng một Tổng Hội nữa, Tổng Hội lần thứ 32.

Sau mấy năm ráo riết chuẩn bị, Tổng Hội 32 đã diễn ra từ ngày 2/12/1974 đến ngày 7/3/1975. Tổng Hội này được sử dụng như một công cụ để tái định nghĩa căn tính và sứ mạng của DT. Đức Phao-lô VI đã đích thân gửi thư, và nhiều lần qua trung gian của Hồng Y Quốc Vụ Khanh Jean Villot, nghiêm khắc cảnh báo Arrupe phải tuyệt đối trung thành với gia sản tinh thần của thánh I-nhã. Cụ thể, Đức Phao-lô VI nghiêm cấm Tổng Hội 32 không được bàn thảo và thay đổi hệ thống đẳng cấp của Dòng – grade system. Hệ thống đẳng cấp là bất khả xâm phạm!

Bỏ ngoài tai những cảnh báo của Giáo Hoàng, Arrupe đã dẫn dắt Tổng Hội 32, nhắm vào hệ thống đẳng cấp của Dòng như một mục tiêu quan trọng nhất cần phải phế bỏ. Một số đề nghị rằng, lời khấn Thứ Tư, thay vì chỉ dành cho cấp thứ nhất là các Linh Mục Khấn Trọn, thì từ nay nên được mở rộng ra cho tất cả mọi phần tử của Dòng. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng còn triệt để cực đoan hơn đó là, toàn bộ hệ thống đẳng cấp cùng với lời khấn Thứ Tư đã bị bãi bỏ. Bởi vì, đó là sản phẩm của thời quân chủ Trung Cổ lỗi thời! Nếu thánh I-nhã sống vào thời này, chắc chắn ngài đã không kiến thiết Hội Dòng như thế!

Tổng Hội 32 đã định nghĩa lại căn tính và sứ mạng của DT. Thay vì là người của Giáo Hoàng, là đội quân trung thành của ngài, để phục vụ và chiến đấu cho vương quốc của Đức Ki tô và ơn cứu độ của con người, thì từ nay, họ sẽ là người của mọi người để xây dựng vương quốc trần thế bằng cách thúc đẩy công bằng xã hội, bãi bỏ mọi hình thức kỳ thị và áp bức bất công, nhất là áp bức về kinh tế, chính trị, và văn hóa….

Với đường hướng như thế, Arrupe đã thành công trong việc rũ bỏ cái áo I-nhã cũ kĩ và khoác cho DT một tấm áo mới hợp thời trang hơn. Quyết định như thế là một sự đoạn tuyệt với lý tưởng ban đầu của thánh I-nhã và là một đòn tấn công vào quyền bính Giáo Hoàng. Đáng tiếc là Đức Phao-lô VI đã không đủ dũng khí như Đức Clemente XIV, người đã ra lệnh giải thể DT năm 1773. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn…

Chiến Binh Thần Học Giải Phóng

Theo đa số nhìn nhận, THGP được chính thức ra đời năm 1973 và cha đẻ của nó là Gustavo Gutierrez, một linh dòng Đa-minh người Pêru. Sứ mạng của THGP là giúp con người thực hiện cuộc giải thoát khỏi nghèo đói và áp bức bất công về kinh tế và chính trị. Theo đó, Chúa Giêsu là mẫu mực của nhà cách mạng THGP vì chọn lựa đứng về phía người nghèo, và chết cho người nghèo của Ngài. Ngài chết vì lập trường giai cấp, chọn người nghèo, của ngài. Tin Mừng của Chúa Giêsu là cẩm nang đấu tranh giai cấp. THGP vay mượn 2 công cụ chính là thần học lịch sử của Jacques Maritain và Biện Chứng Lịch Sử Mác-xit để giải thích và bắt bệnh xã hội loài người. THGP nhắm đến việc phục vụ con người như thể chỉ có một vương quốc trần gian này mà thôi, chứ không có một vương quốc nào khác. THGP coi đám đông dân chúng – people là nơi đón nhận mạc khải và là cơ sở để giải thích mạc khải…

Chấp nhận THGP sẽ dẫn đến sự sụp đổ toàn bộ Truyền Thống Đức Tin Công Giáo. Bởi vì, dân chúng, chứ không phải Giáo Hoàng, mới là nguồn đón nhận mạc khải và là cơ sở tin cậy nhất để giải thích mạc khải. Sẽ chẳng còn có tín điều nữa bởi giáo lý cũng thay đổi theo dòng chảy của lịch sử. Giáo Hội là Dân Thiên Chúa – people of God – chứ không phải là Giáo Hội phẩm trật của Roma. Tội lỗi, về căn bản, không phải là của cá nhưng là do những cơ cấu xã hội bất công và sự áp bức của chủ nghĩa tư bản! (coi lại bài 13 để biết thêm về THGP)

DT nói chung và nhất là ở Mỹ Châu La Tinh, là chiến binh vô địch truyền bá thứ THGP này. Họ sẵn sàng cầm cày, cầm cuốc và cầm súng để cùng chiến đấu với người nghèo. Là đồng minh của người nghèo, làm cách mạng chống lại sự áp bức của Chủ Nghĩa Tư Bản. Họ là đồng minh của Chủ Nghĩa Cộng Sản vì cùng chọn đứng về phía người nghèo. Họ thách thức GH trước hai chọn lựa: Chủ Nghĩa Cộng Sản (người nghèo) và Chủ Nghĩa Tư Bản ( người giàu). Chỉ có hai chọn lựa này mà thôi chứ không có chọn lựa thứ ba! Nếu Giáo Hội không chọn đứng về phía người nghèo thì Giáo Hội cũng chỉ là đồng minh áp bức với Chủ Nghĩa Tư Bản mà thôi. Vì thế, người ta có thể nói, THGP được thể hiện là là một phần tất yếu trong Thuyết Tiến Hóa của Chardin, là bước đi tất yếu của nhân loại trong quá trình tiến đến Điểm Omega.

Như vậy ta thấy, vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Giáo Hội Công Giáo nói chung và Giáo Hoàng nói riêng đã phải đương đầu với một thế lực nguy hiểm là DT. Suốt mấy trăm năm, đạo binh của thánh I-nhã luôn thể hiện họ đồng mình và những chiến binh can đảm của Giáo Hoàng, để truyền bá Đức Tin và Luân Lý Công Giáo cũng như để bảo vệ quyền và địa vị tối cao của Giáo Hoàng . Nhưng nay, dưới sự dẫn dắt của Arrupe, họ đã bất chấp cảnh báo của Giáo Hoàng, đoạn tuyệt với lý tưởng I-nhã, và nổi lên là một thế lực đối trọng, thách thức Giáo Hoàng. Linh đạo của họ giờ đây là THGP, một thứ linh đạo hai mặt: rêu rao là giải phóng người nghèo khỏi áp bức bất công về chính trị và kinh tế nhưng thực chất là nhắm đến việc lật nhào toàn bộ Đức Tin Công Giáo. Đức Phao-lô VI đã hoàn toàn thất bại trước việc ngăn chặn cú chuyển mình 180 độ này của DT.

Ngay sau khi Đức Phao-lô VI qua đời, Vicient O’Keefe, một trong bốn trợ lý thân tín của Arrupe và được coi là sẽ kế vị Arrupe, đã công khai nói với một tờ báo Đức rằng, Giáo Hoàng mới nên xem xét lại lệnh cấm của Giáo Hội đối với việc phá thai, hôn nhân đồng giới và việc truyền chức cho phụ nữ!

Ngày 26/8/1978, Đức HY. Albino Luciani đắc cử lên ngôi Giáo Hoàng với hiệu là Gioan Phao-lô I. Hướng đi lệch lạc, đoạn tuyệt với lý tưởng I-nhã, mà DT đang lao đi là một hiểm nguy thực sự mà Đức Tân Giáo Hoàng đã nhận biết từ trước. Ngài cảm thấy giận dữ, còn hơn cả một thách thức rằng, DT cho mình là người hiểu rõ hơn cả Giáo Hoàng về những gì mà người công giáo cần phải tin và giữ! Đó thực sự là một sự tiếm quyền trực tiếp của Giáo Hoàng. Đức Gioan Phao-lô I đã triệu tập Arrupe và yêu cầu giải trình và Arrupe đã khiêm tốn cam kết sẽ xem xét tất cả vấn đề mà Giáo Hoàng lưu tâm.

Theo linh mục Paulo Dezza, người giải tội của Đức Phao-lô VI và cũng là của chính Đức Gioan Phao-lô I, thì Đức Gioan Phao-lô I đã soạn một bài diễn văn rất cứng rắn và dự tính sẽ đọc trước một hội nghị quốc tế của các lãnh đạo DT sẽ được nhóm họp tại Roma vào ngày 30/9/1978. Bài diễn văn gồm những lời cảnh báo DT phải trở về với căn tính I-nhã ban đầu của Dòng, bằng không Giáo Hoàng sẽ hành động cứng rắn. Giáo Hoàng đã dự liệu đến cả biện pháp là giải thể DT nếu tình hình đòi buộc. Giáo Hoàng cũng nhận được rất nhiều lời kêu cứu của chính các phần tử DT , cầu xin ngài hãy hành động mạnh mẽ như vậy. Đáng tiếc, ngài đã không có cơ hội đọc bài diễn văn và làm những gì cần làm với DT bởi vì, ngày 29/9/1978, chỉ một ngày trước khi hội nghị quốc tế DT diễn ra, ngài đã đột ngột qua đời, sau chỉ vỏn vẹn 33 ngày trên ngôi Giáo Hoàng .

Ngay khi Giáo Hoàng qua đời, Arrupe đã hỏi xin Đức HY Jean Villot, HY nhiếp chính lúc đó, trao cho bài diễn văn chưa kịp đọc của Đức Gioan Phao-lô I nhưng đã bị từ chối. Đúng là, dự tính bao điều bỗng chốc tiêu tan…cuộc chiến vẫn tiếp diễn.

Chỉ một tháng sau khi lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Gioan Phao-lô II đã gửi bài diễn văn của vị Giáo Hoàng tiền nhiệm đến cho Arrupe ở trụ sở Hội Dòng tại Gesù, Rôma. Qua cử chỉ đó, Đức Tân Giáo Hoàng muốn nói rằng, bài diễn văn của vị Giáo Hoàng tiền nhiệm cũng là bài diễn văn của ngài, và lời của vị Giáo Hoàng tiền nhiệm cũng là lời của ngài muốn nói với Arrupe và DT.

Vào ngày cuối cùng của năm dương lịch năm 1978, như một cử chỉ ưu ái, Đức Gioan Phao-lô II ghé thăm trụ sở DT tại Gesù, Rôma, nhân dịp lễ tạ ơn Thiên Chúa dịp cuối năm mà DT vẫn thường làm. Ngài lưu ý trước là ngài không muốn nhìn thấy một tu sĩ DT nào trong bộ thường phục ngày hôm đó! Khi sự kiện diễn ra, Giáo Hoàng đã nhận được sự đón tiếp lạnh nhạt nhưng lịch sự của DT. Sau đó, ngài có ở lại dùng bữa với mọi người. Một nhân vật hiện diện trong bữa tối này sau đó phàn nàn rằng, chẳng thấy Giáo Hoàng hé mở điều gì liên quan đến tương lai của Dòng. Những tiếng rầm rì trở nên lớn hơn, nếu chúng ta đã làm ngơ trước Đức Phao-lô VI và Gioan Phao-lô I, thì tại sao chúng ta phải nghe lời Giáo Hoang này? Chúng ta cứ tiếp tục con đường của chúng ta!

DT vẫn tiếp tục con đường cách mạng của họ. Các nhân vật như James Carney, Heinrich Fries, và người ‘khổng lồ’ Karl Rahner, vẫn tiếp tục đả phá mạnh mẽ Giáo Hoàng, Ơn Bất Khả Ngộ, và toàn bộ các tín điều của Đức Tin Công Giáo. Trong cuốn sách cuối cùng của mình với tựa đề “Unity of the Churches: An Actual Possibility”, Rahner cao giọng rằng, để đạt được sự hiệp nhất Kitô Giáo, cần phải vứt bỏ tín điều Bất Khả Ngộ, địa vị trổi vượt hàng đầu của Giáo Hoàng, và toàn bộ các tín điều đã được xác định và truyền dạy bởi các Giáo Hoàng kể từ thế kỷ thứ tư đến nay!

Còn ở tại Hoa Kỳ, linh mục John J. McNeil đã xuất bản tài liệu và sách vở ủng hộ hôn nhân đồng giới và kêu gọi Giáo Hội phải thay đổi quan điểm về vấn đề này. Linh mục Robert F. Drinan, có chân trong quốc hội Hoa Kỳ, đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật phá thai theo yêu cầu! Bất chấp lời răn bảo của Giáo Hoàng, Arrupe đã làm ngơ trước những lệch lạc của thuộc hạ và cho rằng việc nhúng bén đến chính trị là cần thiết!

Tại vùng Châu Mỹ La Tinh, Thần Học Giải Phóng, nhờ được nuôi dưỡng và quảng bá bởi DT, đang phất lên như lý tưởng và ngọn cờ cách mạng đem lại sự giải thoát cho người dân khỏi đói nghèo và áp bức bất công. Các Cộng Đồng Căn Bản mọc lên như nấm sau mưa. Và như đã nói qua ở trên, những Cộng Đồng này được xây dựng trên khái niệm Giáo Hội là Dân Thiên Chúa. Có điều là, Dân này không chịu tùy thuộc Giáo Hoàng, nhưng khẳng định họ là những Cộng Đồng độc lập khỏi Vatican. Họ đón nhận mạc khải và giải thích mạc khải theo ơn Chúa ban cho chính họ, không cần nhờ đến bộ máy quan liêu của Giáo Hoàng và Vatican, như họ nghĩ, chỉ cho họ biết phải tin và làm gì. Họ thiết lập giáo hội của riêng họ.

Từ khái niệm Giáo Hội là “Dân Thiên Chúa – people of God” của Vatican II, đã sinh ra khái niệm “Giáo Hội Của Dân – people’s church”. Vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, toàn vùng Mỹ Châu La Tinh đã có khoảng gần ba trăm ngàn Cộng Đồng Căn Bản như thế! Riêng tại Nicaragua, một quốc gia nhỏ bé toàn tòng Công Giáo, có khoảng một ngàn Cộng Đồng Căn Bản. Hiện tượng bùng phát các Cộng Đồng Căn Bản đã khơi mào từ cuối những năm sáu mươi, nhưng DT đã che dấu không báo cho Vatican biết. Nicaragua được coi là chiến trường thử thách giữa với Đức Gioan Phao-lô II và DT.

Tại Nicaragua, có sự xung đột về mục tiêu chiến lược giữa Giáo Hoàng và DT. Giáo Hoàng muốn ngăn chặn ảnh hưởng của THGP và Chủ Nghĩa Cộng Sản, dẹp bỏ khái niệm sai lầm “Giáo Hội Của Dân” nơi các Cộng Đồng Căn Bản, đang kều gào đòi quyền tự quyết và tự trị, không chấp nhận sự lệ thuộc Roma. Ngược lại, DT ra sức chiến đấu để bảo vệ tất cả những gì Giáo Hoàng muốn phá bỏ. Họ hăng hái tham gia hoạt động chính trị hơn là thực thi vai trò linh mục. Điển hình là các linh mục Alvaro Arguello, Fernando Cardenal, và Ernesto Cardenal, họ có chân trong chính phủ Junta của Nicaragua. Họ đấu tranh cho quyền lợi của người nghèo và quyền tự trị của các Cộng Đồng Căn Bản. Mục tiêu của Giáo Hoàng và DT hoàn toàn đối nghịch. Dù nhiều lần nhắc nhở cảnh báo, nhưng DT bất tuân. Họ không ủng hộ đường lối của Giáo Hoàng và nhất quyết không tuân lệnh Giáo Hoàng, bởi họ nghĩ rằng, nếu để cho Giáo Hoàng khống chế được họ ở Nicaragua , ngài sẽ khống chế họ ở khắp mọi nơi và ngược lại.

Căng thẳng giữa Giáo Hoàng và DT tiếp tục gia tăng. Mùa Xuân năm 1981, một cuộc họp kín giữa Giáo Hoàng và DT đã diễn ra tại lầu ba Phủ Giáo Hoàng ở Vatican. Mục đích cuộc họp là để giải quyết chuyện sống chết của DT: tiếp tục để để DT lao theo con đường của họ dưới sự dẫn dắt của Arrupe hay giải thể Hội Dòng? Phía Giáo Hoàng, ngoài ngài ra còn có sáu vị Hồng Y quyền lực đại diện cho Phủ Quốc Vụ Khanh, Bộ Giáo Lý Đức Tin, Bộ Truyền Giáo, Bộ Giám Mục, Bộ Giáo Sĩ, Bộ Tu Sĩ. Trong sáu vị HY này, ba vị đến từ Bộ Giáo Lý Đức Tin, Bộ Truyền Giáo và Bộ Giáo Sĩ là cùng chí hướng với Giáo Hoàng. Ba vị còn lại có vẻ lệch pha với Giáo Hoàng và rõ rệt nhất là vị đến từ Phủ Quốc Vụ Khanh – Agostino Casaroli, bị coi là hoàn toàn đối nghịch với Giáo Hoàng.

Cuộc họp diễn ra với vẻ nghiêm trọng xen lẫn hồi hộp âu lo. Giáo Hoàng mở đầu cuộc họp bằng những lời xoay quanh chủ đề về lòng trung thành của DT đối với Giáo Hoàng và bổn phận phải truyền bá Giáo Lý Công Giáo đích thực. Sau đó, từng vấn đề được nêu ra. Từng tiếng nói đại diện cho các Bộ được cất lên. Nhất định phải hành động nhưng hành động thế nào đây? – đại diện cho Giáo Hoàng, Phủ Quốc Vụ Khanh lên tiếng. Bộ Giáo Lý Đức Tin thẳng thắn đề xuất một giải pháp hai bước. Bước một, chấp nhận đơn từ chức Tổng Quyền của Arrupe. Bước hai, bổ nhiệm một giám sát viên của Giáo Hoàng để lo việc chuẩn bị cho Tổng Hội kế tiếp. Đây được coi là giải pháp trung dung giữa hai bên bởi trước cuộc họp này, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã trù tính việc giải thể hoàn toàn DT.

Sau khi lắng nghe Bộ Giáo Lý Đức Tin trình bày giải pháp hai bước, phòng họp bị bao trùm bởi sự chờ đợi thinh lặng. Giáo Hoàng đưa mắt nhìn từng vị HY. Mỗi vị đều khẽ gật đầu ra vẻ tán thành. Ánh mắt của Giáo Hoàng dừng lại lâu nhất nơi vị HY của Phủ Quốc Vụ Khanh. Rồi Giáo Hoàng từ từ đứng dậy, buông ra một câu: “các HY đã mất tám vòng bỏ phiếu để chọn tôi làm Giáo Hoàng đấy!”, rồi ngài lặng lẽ rời khỏi phòng họp, để lại sự ngơ ngác, ngạc nhiên, và khó hiểu cho các vị còn ngồi đó!

Khi cuộc chiến giữa Giáo Hoàng Trắng và Giáo Hoàng Đen đang hồi ngay cấn, thì chỉ khoảng 3 tuần sau cuộc họp trên, vào ngày 13/5/1981, Giáo Hoàng bị trúng hai viên đạn chí mạng của Mehmet Ali Agca. Trong khi Giáo Hoàng nằm viện, người ta nhận thấy thái độ trở cờ ra mặt của Arrupe và HY. Quốc Vụ Khanh Casaroli. Thái độ của họ cho thấy, họ không hào hứng với việc Giáo Hoàng sẽ phục hồi. Cụ thể, Casaroli đã trực tiếp đi ngược lại ý của Giáo Hoàng khi gửi sứ điệp chúc mừng cho TGM Paul Poupard trong đó ca ngợi con người và sự nghiệp của Chardin, coi những khám phá và tư tưởng sáng ngời mà Chardin đã để lại là một dấu ấn không thể phai mờ trong thời đại của ngài. Arrupe cũng hùa theo tán dương Chardin cách mạnh mẽ. Cùng thời gian này, do Giáo Hoàng còn đang dưỡng thương, Arrupe tỏ vẻ cao ngạo và đắc thắng trong cuộc họp với Ủy Ban Giáo Hoàng về Châu Mỹ La Tinh.

Thái độ và lòng dạ của Casaroli và Arrupe đã không lọt được qua mắt của Giáo Hoàng, nên khi bình phục trở lại, Giáo Hoàng đã có hành động sửa dạy với hai nhân vật này. Cụ thể, Giáo Hoàng đã ra lệnh cho Casaroli trước tiên phải công khai đăng đính chính rút lại những lời tán dương đã dành cho Chardin đồng thời yêu cầu phải nhắc lại việc kết án mà Giáo Hội đã dành cho Chardin năm 1960. Tiếp đến, Casaroli phải thực bước một của giải pháp hai bước, là thi quyết định của Giáo Hoàng về việc loại trừ Arrupe khỏi chức vụ Tổng Quyền DT.

Trước khi Casaroli thi hành mệnh lệnh của Giáo Hoàng, thì ngày 7/8/1981, Arrupe bỗng nhiên bị tai biến, liệt một phần thân bên phải và cấm khẩu. Mặc dầu vậy, ngày 5/10/1981, người của Phủ Quốc Vụ Khanh vẫn đem sắc lệnh của Giáo Hoàng đến tận bên dường bệnh của Arrupe. Sắc lệnh của Giáo Hoàng cho biết, Arrupe sẽ bị loại trừ vĩnh viễn khỏi chức vụ Bề Trên Tổng Quyền; O’ Keefe cũng bị loại khỏi chức vụ Tổng Đại Diện và mất hết mọi hy vọng lên chức Bề Trên Tổng Quyền. Đồng thời, Giáo Hoàng đã chỉ định một đại diện của ngài là Paulo Dezza làm Bề Trên tạm thời của DT. Dezza lúc đó đã gần 80 tuổi và từng là cha giải tội cho hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm. Trợ lý cho Dezza là Giuseppe Pittau, bề trên Tỉnh Dòng Nhật Bản.

Cú đánh trời ráng của Giáo Hoàng đã gây lên làn sóng phẫn nộ và có phần sợ hãi trong toàn Dòng. Họ chất vấn Giáo Hoàng bằng vô số câu hỏi tại sao. Họ nhao nhao bao giờ thì có Tổng Hội mới để cho họ chọn Cha Bề Trên. Rồi họ an ủi nhau rằng, Giáo Hoàng nào rồi cũng phải chết thôi!

Trên năm ngàn thư phản đối, lên án hành động của Giáo Hoàng từ Mỹ và khắp nơi trên thế giới đã tới tấp đổ về Rôma. Từ Đức quốc, Karl Rahner dẫn đầu một nhóm đã kịch liệt lên án quyết định của Giáo Hoàng. Hành động của Giáo Hoàn chứng tỏ rằng, ngay cả quyền bính tối cao trong Giáo Hội cũng không tránh khỏi sai lầm. Rồi họ đe dọa trả thù bằng cuộc nổi loạn! Mặc dầu vậy, khoảng 8% tổng số thành viên DT trên thế giới đã cám ơn Giáo Hoàng về đòn đánh cần thiết của ngài.

Ngày 30/10/1981, giảng trong thánh lễ nhậm chức Bề Trên Tổng Quyền tạm thời tại Gesù, Dezza bật mí rằng, Tổng Hội mới để chọn Cha Tổng Quyền chỉ có thể bắt đầu sau khi công bố Bộ Giáo Luật mới. Căng thẳng vẫn tiếp tục tăng lên và họ lo Bộ Giáo Luật mới có thể gây cản trở cho họ. Họ gia tăng việc tấn công và bài bác Giáo Hoàng cũng như Ơn Vô Ngộ. Họ lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ ngừa thai và phá thai, hôn nhân đồng giới, ly dị, THGP và Chủ Nghĩa Mác-xít… Dưới sự dẫn dắt tạm thời của Dezza, họ âm thầm nhưng ráo riết tìm kiếm một ứng viên xứng hợp để dẫn dắt họ vượt qua giai đoạn khó khăn với vị Giáo Hoàng đến từ Ba Lan này.

Lúc này, tình hình giáo hội Công Giáo ở Châu Mỹ La Tinh đang lâm nguy. Trong con mắt của Giáo Hoàng, nếu không hành động kịp thời, Giáo Hội sẽ phải hứng chịu đau thương như Thời Cải Cách của thế kỷ 16. Vì thế, Vatican gấp rút sắp xếp một chuyến đi nữa của Giáo Hoàng đến vùng Châu Mỹ La Tinh. Đó là lần thứ tư Giáo Hoàng đích thân đến châu lục này chỉ trong vòng bốn năm. Các chặng dừng chân dự tính là Costa Rica, Panama, El Salvador, Guatemala, Nicaragua, và Haiti. Trong đó Nicaragua là mục tiêu quan trọng nhất của trong chuyến đi này. Các điều kiện cho việc Giáo Hoàng đặt chân đến Nicaragua được trao đổi với chính phủ cầm quyền Junta. Trong đó, điều kiện cụ thể và đặc biệt mà Giáo Hoàng đưa ra là phải có tượng chịu nạn đặt trên bàn thờ khi dâng lễ và không được phô bày những bích trương cách mạng mô tả bạo lực. Sở dĩ như vậy là vì Giáo Hội Của Dân ở vùng này đã thay tượng chịu nạn bằng các bích trương và biểu tượng cách mạng!

Phía Nicaragua, chính phủ cầm quyền Junta cùng với các quân sư của DT, cũng đang chuẩn bị đón tiếp Giáo Hoàng theo một cách thức mà họ nghĩ là sẽ khiến Giáo Hoàng phải sáng mắt ra!

DT vẫn chưa thể nuốt trôi mối hận vì hành động can thiệp thô bạo của Giáo Hoàng trong việc truất phế Arrupe. Họ không nhận thấy họ đã làm gì sai. Những gì họ làm chỉ là vì áp dụng tinh thần đổi mới của CĐ Vatican II. Vì thế, họ quyết tâm phải làm cho Giáo Hoàng này bừng tỉnh để thấy rằng, GH hoàn vũ không phải là phiên bản phóng to của một giáo phận bên Ba Lan, rằng lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ thì hoàn toàn khác với việc lãnh đạo một địa phận ngoan ngoãn ở Ba Lan.

Ngày 4/3/1983, Giáo Hoàng đặt chân đến Nicaragua. Ra khỏi máy bay, ngài phủ phục xuống hôn đất như thói quen vẫn làm. Tiếp theo, Daniel Ortega, đại diện chính phủ cầm quyền Junta, chào đón Giáo Hoàng bằng bài diễn văn dài 25 phút với nội dung là lên án Chủ Nghĩa Tư Bản và Hoa Kỳ. Giáo Hoàng chỉ biết ngao ngán ngồi chịu trận. Đầu nghẹo sang một bên ghế. Tay chống cằm. Mắt nhìn xuống đất! Rồi cũng đến lượt Giáo Hoàng đáp từ. Ngài chào mừng mọi người hiện diện, đề cao tấm gương của Obando y Bravo, TGM của Managua. Tiếp đến, ngài phê phán “Giáo Hội Của Dân” và coi đó là sự lệch lạc và phản bội nghiêm trọng đối với ý định của Đức Kitô. Ngay lập tức những lời của ngài đã bị nhấn chìm trong tiếng hò la vang trời của đám đông! Giáo Hoàng đã phải bỏ dở bài diễn văn với vẻ không hài lòng. Rồi ngài bắt tay các quan chức của chính quyền Junta. Trong số các linh mục DT tham gia chính quyền Junta, chỉ có duy nhất Ernesto Cardenal là có mặt. Ernesto bỏ mũ, bái gối một chân, và định hôn nhẫn Giáo Hoàng nhưng Giáo Hoàng chỉ ngón tay vào Ernesto và nói “hãy cải chính tình trạng của anh” và Giáo Hoàng nhấn mạnh lần nữa “hãy cải chính tình trạng của anh”. Ernesto chỉ im lặng và đáp lại Giáo Hoàng bằng nụ cười nhếch mép.

Đỉnh cao chuyến thăm của Giáo Hoàng là thánh lễ tại quảng trường cho công chúng. Khoảng sáu trăm ngàn người tuôn đến “dự” lễ của Giáo Hoàng. Quảng trường và lễ đài tràn ngập băng rôn, khẩu hiệu và chân dung các anh hùng cách mạng của Junta. Chính giữa lễ đài là chiếc bàn dài đơn giản, được phủ khăn trắng. Không có tượng chịu nạn trên bàn thờ. Nền phông căng trên lễ đài có dòng chữ lớn: GIÁO HOÀNG ĐÃ ĐẾN ĐÂY. CÁM ƠN CHÚA VÀ CÁCH MẠNG!

Thánh lễ diễn ra trong tiếng ồn như chợ vỡ. Đến phần bài giảng, Giáo Hoàng ngạc nhiên vì ngay cả micro dành riêng cho ngài cũng không thế át được tiếng ồn của đám đông. Rồi các khẩu hiệu cách mạng đều đặn vang lên mỗi lúc một lớn hơn:

TRẢ LẠI QUYỀN CHO DÂN!

NÓI VỀ NGƯỜI NGHÈO CHO CHÚNG TÔI!

ĐỨC KITÔ SỐNG TRONG GIÁO HỘI CỦA DÂN!

CHÚNG TÔI MUỐN MỘT GIÁO HỘI ĐỨNG VỀ PHÍA NGƯỜI NGHÈO!

KHÔNG CÓ ĐỐI NGHỊCH GIỮA KITÔ GIÁO VÀ CÁCH MẠNG!

Giáo Hoàng đứng chết lặng giữa biển người. Khuôn mặt của ngài trở nên tím tái vì giận dữ. Ngài hô to “SILENCIO”! Tiếng gào của đám đông lại to hơn. Giáo Hoàng lại hô lớn lần thứ hai “SILENCIO”! Tiếng la hét của đám đông lại tăng lên chôn vùi Giáo Hoàng. Trong tuyệt vọng, Giáo Hoàng lại hô lớn lần thứ ba “SILENCIO”! Hàng ngàn hàng vạn cánh tay giơ lên kèm theo tiếng hô vang trời: TRẢ LẠI QUYỀN CHO DÂN! ĐỨC KITÔ SỐNG TRONG GIÁO HỘI CỦA DÂN!
Giáo Hoàng phải chấp nhận đầu hàng và bỏ dở bài giảng! Sang phần Phụng Vụ Thánh Thể và giây phút truyền phép linh thiêng nhất, đám đông vẫn không tha cho Giáo Hoàng. Những điệp khúc vẫn cứ vang lên rầm trời:

TRẢ LẠI QUYỀN CHO DÂN!

ĐÂU CÓ SAO KHI VỪA LÀ KITÔ HỮU VỪA LÀ NGƯỜI MÁC-XÍT!

HÃY NÓI VỚI CHÚNG TÔI VỀ SỰ BẤT CÔNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN!

Việc bị làm nhục vẫn chưa buông tha Giáo Hoàng. Khi ngài và đoàn tùy tùng đã yên vị trên máy bay, viên phi công thông báo cho kiểm soát không lưu: đã sẵn sàng cất cánh! Junta đã ra lệnh cho máy bay phải chờ thêm 10 phút nữa! Đó là thông điệp cuối cùng họ gửi đến Giáo Hoàng, để cho Giáo Hoàng biết ai mới thực sự là người làm chủ ở đây.

Khi vở kịch làm nhục Giáo Hoàng đã diễn xong, đài radio của Nicaragua rêu rao rằng, sự phản đối và giận dữ của người dân là tự nhiên trước bộ mặt thờ ơ của Giáo Hoàng. Nguồn tin khác kết luận: đây là Giáo Hoàng của Phương Tây, Giáo Hoàng của Chủ Nghĩa Đế Quốc! Ông ta đang muốn biến Nicaragua thành một Ba Lan khác. Fernado Cardenal, linh mục DT trong chính quyền Junta, biện hộ cho việc làm nhục Giáo Hoàng đó là vì, bài diễn văn của Giáo Hoàng chẳng khác nào một lời tuyên chiến!

DT phản ứng thế nào trước vụ làm nhục Giáo Hoàng này? Đa số các bề trên cao cấp và giới lãnh đạo đều như mở cờ trong bụng. Giáo Hoàng đã can đảm chui đầu vào hang sư tử thì cũng hãy bình thân mà dưỡng thương và rút kinh nghiệm. Họ coi đó là bài học cần thiết giúp Giáo Hoàng, xuất thân là một giám mục từ ốc đảo Ba Lan, mở rộng tấm mắt để thấy rằng, thế giới này rộng lớn và phức tạp như thế nào! Vì thế, họ chẳng có gì phải bận tâm về việc một số phần tử của họ dính líu tích cực vào vụ làm nhục Giáo Hoàng vừa xảy ra này.

Sau bao đợi chờ, tháng 9 năm 1983, Tổng Hội lần thứ 33 cũng đã được diễn ra. Việc đầu tiên Tổng Hội 33 làm là chấp nhận đơn từ chức của Arrupe! Qua hành động này, DT muốn nói với Giáo Hoàng rằng, chính họ mới là người có quyền cất đi chức vụ Tổng Quyền của Arrupe chứ không phải là Giáo Hoàng! Việc quan trọng thứ hai mà Tổng Hội 33 làm là chọn ra người xứng đáng lên kế vị Arrupe. Và chỉ sau đúng một vòng bỏ phiếu, điều trước đây chưa từng xảy ra, họ đã chọn được Cha Tổng Quyền mới. Đó là một người Hà Lan, Piet Hans Kolvenbach, một nhân vật mà người Roma gọi là furbo, nghĩa là ranh ma và quỷ quyệt! Kolvenbach được chọn lên với hy vọng là ngài sẽ tiếp tục cuộc cách mạng cải tổ Hội Dòng theo con đường mà Arrupe đã khởi xướng, đồng thời giải quyết êm mối quan hệ căng thẳng với vị Giáo Hoàng đến từ Ba Lan Cộng Sản!

Thử thách đầu tiên Kolvenbach phải đương đầu trong vai trò Tổng Quyền là một mệnh lệnh của Giáo Hoàng trong đó, yêu cầu Kovelbach phải lệnh cho thuộc cấp của mình là Ferando Cardenal, từ bỏ tư cách thành viên trong chính phủ Junta ở Nicaragua. Kolvenbanch nấn ná, giả làm ngơ như không muốn thực hiện yêu cầu của Giáo Hoàng. Một lần nữa Giáo Hoàng ra mệnh lệnh dứt khoát hơn cho Kolvenbach: Cardenal và tất cả các linh mục DT khác phải rút khỏi nội các chính phủ Junta hoặc phải bị trục xuất khỏi Dòng. Kolvenbach đã nói cho Cardenal biết ý của Giáo Hoàng nhưng bị Cardenal phản lại, bất phục tùng. Cardenal biện hộ rằng, đó là sứ vụ Chúa đã gọi ông làm, và chỉ có như vậy ông mới giúp người nghèo cách đắc lực.

Trong khi đang giải quyết vụ Cardenal thì năm 1984, Giáo Hoàng, thông qua Bộ Giáo Lý Đức Tin của Đức HY Ratzinger, đã ban hành tài liệu vạch trần và lên án những sai lầm của THGP. Ngay lập tức, Kolvenbach đã thể hiện bản chất của mình bằng cách bênh vực THGP và chỉ trích tài liệu của Bộ Giáo Lý Đức Tin là tiêu cực và không thực tế. THGP, theo Kolvenbach, cần phải được nhìn nhận và coi là cần thiết cho con người thời đại.

Trước sự quyết liệt của Giáo Hoàng, ngày 4/12/1984, Kolvenbach cuối cùng cũng đã phải gửi quyết định trục xuất khỏi Dòng đến cho Cardenal. Sau đó, Kolvenbach lại thể hiện sự ranh ma của mình bằng cách viết thư gửi cho toàn Dòng, thông báo việc ra đi của Cardenal. Kolvenbach không hề giải thích việc Cardenal xuất khỏi Dòng là do ý muốn và lệnh truyền của Giáo Hoàng, nhưng bao biện rằng đó kết quả của cuộc chiến lương tâm của Cardenal.

Khoảng năm 1985, Giáo Hoàng nhận được báo cáo từ các đại diện của ngài ở vùng Trung Mỹ rằng, THGP mà DT đem đến sát cánh cùng với Mặt Trận Giải Phóng Sandinista với niềm tin sẽ đem lại sự tự do và thịnh vượng cho người dân Nicaragua, rốt cuộc chỉ đem lại sự hoang tàn và bất công hơn cho dân chúng. Trang trại, ruộng nương, và tài của người dân bị tập trung và quốc hữu hóa!

Cho đến ngày nay, nhờ THGP, toàn vũng Mỹ Châu La Tinh vẫn chìm trong bất công, bạo lực tràn lan dưới muôn hình thức. Đức tin Công Giáo trở nên không còn ý nghĩa và làn sóng cải đạo sang các giáo phái Tin Lành vẫn tiếp tục ngày một quy mô mạnh mẽ….

Kết Luận

Qua những điều nói trên, chúng ta hiểu được bản chất và ý nghĩa của quá trình phản bội Giáo Hội Công Giáo của DT. Cuộc phản bội được tiến hành nhân danh “tinh thần đổi mới của Vatican II“. Cụm từ này đã trở nên như một chìa khóa và công cụ vạn năng cho mọi sự đoạn tuyệt và đạp đổ quá khứ. Cuộc cải tổ tận căn của DT mà Arrupe khơi mào năm 1965, tiếp tục mạnh mẽ sau đó cho đến ngày nay, là hệ quả tất yếu của Công Đồng Vatican II. Như đã phân tích trong loạt bài về cuộc cách mạng mang tên Vatican II, Công Đồng này đã gián tiếp làm ngơ, chối bỏ phần lớn các tín điều của đức tin liên quan đến Giáo Hội, Giáo Hoàng, Ơn Bất Khả Ngộ, và các tín điều đã được các Giáo Hoàng và Công Đồng trước đây định tín. Nếu Giáo Hội, thông qua công cụ là Vatican II, đã dám từ bỏ những xác tín trước đây của mình hòa mình vào thế giới cách triệt để hơn, thì DT cũng sẵn sàng vứt bỏ lý tưởng I-nhã cũ kĩ và nặng nề ở đàng sau, để thanh thoát lao mình về phía trước mà chiến đấu, không phải vì ơn cứu độ của con người nhưng vì sự giải thoát con người khỏi áp bức bất công về kinh tế, chính trị , văn hóa…

Tại sao lại có cuộc chiến quyền lực căng thẳng giữa DT và các Giáo Hoàng như vừa phân tích ở trên? Arrupe và giới lãnh đạo DT đã lý giải rằng, cuộc chiến như thế là hậu quả của cuộc đụng độ giữa hai nền thần học: trước và sau Vatican II. DT biến đổi và chuyển mình theo tinh thần của Vatican II. Còn Giáo Hoàng thì lại bám vào thần học tiền Vatican II. Vì thế mới xảy ra đụng độ!

Cũng như người ta có thể nói Đạo Công Giáo trước và sau Vatican II là hai tôn giáo khác nhau, dù vẫn chung một tên gọi, thì người ta cũng có thể nói được rằng, DT của thánh I-nhã và của Arrupe là hai Dòng khác nhau, dù vẫn gọi cùng một tên! DT của Arrupe đã không còn chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng của thánh I-nhã nữa. Đó là ý nghĩa của sự phản bội lại chính họ cũng như Giáo Hội Công Giáo của DT.

Ngày nay, DT vẫn tiếp tục đoạn tuyệt với truyền thống Đức Tin Công Giáo. Đương kim Bề Trên Tổng Quyền, Adolfo Nicolas, qua các bài viết và phát biểu của mình, đã nhiều lần thẳng thắn khẳng định rằng, không cần hoán cải người ngoại và tín đồ các tôn giáo khác; rằng thánh Phanxico Xavie đã không đi để hoán cải dân ngoại nhưng đi để nói với họ rằng: hãy sống tốt; rằng Thiên Chúa đang hướng dẫn mọi người, người Nhật theo cách của người Nhật, người Tàu theo cách của người Tàu và với các tôn giáo khác cũng vậy. Chúng ta – Giáo Hội Công Giáo – không độc quyền chân lý!

Chúng ta không độc quyền chân lý. Xác tín ấy đã được DT rao giảng và đem ra thực hành. Suốt mấy chục năm qua, thông qua mạng lưới giáo dục khổng lồ là các trường đại học trên toàn thế giới, DT đã gieo vào đầu óc bao thế hệ con người các tư tưởng bài bác Giáo Hoàng, Ơn Vô Ngộ, phẩm trật Giáo Hội, các tín điều.., ủng hộ ly dị, ngừa thai, phá thai, hôn nhân đồng giới, chết êm dịu, thụ tinh nhân tạo…tất cả những điều ấy được DT mở cửa chào đón và rao giảng nhân danh sự tự do học thuật và sự tiến bộ của con người.

Xin nhắc lại, nếu là người Công Giáo đích thực, chúng ta phải xác tín, trung thành và tuân giữ toàn bộ kho tàng đức tin và các tín điều mà Giáo Hội và các Giáo Hoàng đã truyền dạy từ ngàn xưa. Chối bỏ dù chỉ là một tín điều là chối bỏ toàn bộ kho tàng đức tin, là chối bỏ chính Đức Kitô, Đấng là nguyên nhân mô thể của chân lý và là chính chân lý. Kho tàng đức tin ấy là bất biến và không thay đổi theo dòng thời gian, cho dù dưới danh nghĩa là nhờ vào sự hiểu biết và những khám phá mới! Chân lý đức tin không phải là một ý niệm mơ hồ nào đó nhưng là chính Đức Kitô, Đấng vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và mãi mãi.

Nếu đức tin không trường tồn và bất biến theo thời gian, thì làm gì có khái niệm suy thoái hay mất đức tin? Vatican II, do ảnh hưởng của Chủ Nghĩa Hiện Đại, đã chủ ý thiết kế và xây dựng một Giáo Hội phi tín điều. Theo đó, Niềm tin của Giáo Hội không phải là bất biến nhưng thay đổi theo thời gian. Đức tin không có mất. Đức tin chỉ thay đổi mà thôi! Tất cả mọi người đều đã được giáo dục theo triết lý như thế! Bởi vậy, thật khó mà thuyết phục con người ngày nay nhận ra một sự suy thoái hay mất đức tin đang xảy ra.

Con người thời nay không tin và nhìn nhận có chân lý tuyệt đối và khách quan! Tất cả đều tương đối, chủ quan, bất toàn, và thay đổi như chính con người vậy. Những ai còn bênh vực và tin vào chân lý tuyệt đối khách quan, sẽ bị coi là kẻ có đầu óc cứng nhắc, quá khích, và nguy hiểm. Nếu họ là các giám mục hay linh mục thì lại càng đáng sợ hơn!

Như một định mệnh, Giáo Hội Công Giáo hôm nay đã hoàn toàn trong tay DT. Cuộc chiến giữa Giáo Hoàng Trắng và Giáo Hoàng Đen sẽ chẳng còn. Giáo Hội sẽ được dẫn dắt đi về đâu? Tương lai sẽ trả lời. Nếu có ai đó còn nhận ra bóng dáng của một cuộc khủng hoảng hay phản bội đức tin – apostasy, hãy biết rằng, tình trạng đó đã thực sự bắt đầu từ suốt mấy chục năm trước. Trong hoàn cảnh đó, thật đáng suy ngẫm những lời mà Thánh Phao-lô cảnh báo chúng ta về thời kỳ cuối rằng:“…việc tên gian dối xuất hiện là do tác động của Satan với đủ thứ quyền năng, dấu lạ và điềm thiêng giả dối, cùng với đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, bởi chúng không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu thoát. Vì thế, Thiên Chúa gửi đến một sức mạnh mê hoặc khiến chúng tin theo sự dối trá. Tất cả những kẻ không tin sự thật nhưng đã ngả theo đường gian ác thì sẽ bị kết án.” (2Tx 2, 9-12)

[1] Malachi Martin, The Jesuits: The Society of Jesus and the Betrayal of the Roman Catholic Church (New York: Linden Press, Simon & Schuster, 1987).

LM. PHAM DUC HAU

Nguồn: http://thoigiodaman.blogspot.com/

Advertisements
This entry was posted in BÌNH LUẬN, THÔNG TIN and tagged , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s